Bảng hỏi số cho dữ liệu sạch khi ba lớp được đặt từ đầu: rẽ nhánh để mỗi người chỉ thấy câu liên quan, ràng buộc giá trị để chặn số vô lý ngay lúc nhập, và câu bắt buộc có kèm lựa chọn từ chối trả lời. Sau đó thử bằng dữ liệu giả trước khi phát.
Làm sạch dữ liệu sau khi thu là việc tốn công và luôn có phần không cứu được: một tuổi ghi 250, một người không có con lại trả lời về học phí của con. Bảng hỏi điện tử cho phép chặn phần lớn lỗi này ngay tại chỗ. Các nguyên tắc dưới đây áp dụng cho mọi công cụ; tên tính năng lấy theo Google Forms, KoboToolbox, LimeSurvey, Qualtrics.
Rẽ nhánh: mỗi người chỉ thấy câu dành cho mình
Hai kiểu logic
Kiểu nhảy (skip): sau câu này, chuyển tới phần khác tuỳ đáp án. Google Forms dùng kiểu này, chuyển tới phần theo đáp án của câu chọn một. Kiểu điều kiện hiển thị (display, relevant): mỗi câu hoặc nhóm câu có điều kiện riêng, chỉ hiện khi điều kiện đúng. KoboToolbox, LimeSurvey, Qualtrics đều có kiểu này, linh hoạt hơn vì điều kiện có thể ghép nhiều câu.
Viết điều kiện thành lời trước
Trước khi bấm vào công cụ, ghi điều kiện bằng lời trên bản bảng hỏi giấy: “Câu B5 chỉ hỏi nếu A3 là có con và A4 lớn hơn 0”. Bản này là tài liệu để người khác kiểm và là phụ lục mô tả bảng hỏi trong báo cáo.
Phân biệt hai loại trống
Sau khi xuất dữ liệu, ô trống có thể là “không được hỏi” (do rẽ nhánh) hoặc “được hỏi nhưng không trả lời”. Hai loại cần mã hoá khác nhau khi phân tích. Công cụ có điều kiện hiển thị thường để trống câu bị bỏ qua; lập sổ mã hoá ghi rõ cách bạn phân biệt chúng, ví dụ dựa vào điều kiện của câu.
Ràng buộc giá trị: chặn số vô lý ngay lúc nhập
Ràng buộc nên chặn cái không thể xảy ra, không chặn cái hiếm. Đặt quá chặt khiến người trả lời có hoàn cảnh đặc biệt phải ghi sai để qua.
| Loại câu | Ràng buộc nên đặt | Thông báo lỗi nên viết |
|---|---|---|
| Tuổi | Số nguyên trong khoảng hợp lý với đối tượng | Vui lòng nhập tuổi bằng số, ví dụ 34 |
| Số năm làm việc | Không lớn hơn tuổi trừ một khoảng hợp lý | Số năm làm việc có vẻ lớn hơn độ tuổi, bạn kiểm lại giúp |
| Tỷ lệ phần trăm | Từ 0 đến 100 | Nhập số từ 0 đến 100 |
| Thư điện tử (nếu cần thu) | Đúng mẫu địa chỉ thư | Địa chỉ thư chưa đúng dạng |
| Chọn nhiều | Số lựa chọn tối đa nếu câu hỏi giới hạn | Chọn tối đa ba lựa chọn |
| Ngày | Không sau ngày hôm nay với sự kiện đã xảy ra | Ngày này nằm trong tương lai |
Viết thông báo lỗi bằng lời người đọc hiểu, nói cách sửa, không viết “Giá trị không hợp lệ”. Với ràng buộc dựa trên câu khác (số năm làm việc so với tuổi), KoboToolbox và LimeSurvey viết được biểu thức; Google Forms chỉ kiểm từng câu riêng lẻ.
Câu bắt buộc và quyền từ chối trả lời
Bắt buộc không có nghĩa là ép
Bắt buộc mọi câu giúp dữ liệu đầy đủ nhưng đẩy người trả lời vào hai lựa chọn xấu: bỏ dở cả phiếu hoặc chọn bừa. Với câu nhạy cảm như thu nhập, sức khoẻ, quan điểm chính trị, cả hai đều làm hỏng dữ liệu, và nguyên tắc đạo đức nghiên cứu yêu cầu người tham gia được quyền không trả lời câu bất kỳ.
Cách dung hoà
Đặt câu là bắt buộc nhưng thêm lựa chọn “Không muốn trả lời”, và với câu kiến thức thêm “Không biết”. Khi đó mỗi ô dữ liệu đều có ý nghĩa: trả lời, từ chối có chủ đích, hoặc không được hỏi. Mã hoá các lựa chọn này bằng giá trị riêng và khai là giá trị thiếu khi phân tích.
Câu nên để không bắt buộc
Câu trả lời mở (“Bạn có góp ý gì thêm?”), câu ghi rõ cho lựa chọn khác, câu thông tin liên hệ cho đợt sau. Đặt bắt buộc cho những câu này chỉ sinh ra chuỗi ký tự vô nghĩa.
Những chi tiết nhỏ quyết định chất lượng dữ liệu
Câu số nhập bằng ô số, không bằng ô chữ. Ô chữ cho phép nhập “khoảng 5 triệu”, “5tr”, “năm triệu”, tất cả phải mã hoá lại bằng tay.
Đơn vị ghi rõ trong câu hỏi. Hỏi thu nhập thì nói rõ theo tháng hay năm, đơn vị nghìn đồng hay triệu đồng, và đặt ràng buộc theo đơn vị đó.
Câu chọn một có lựa chọn bao trọn. Danh sách đáp án phải phủ hết khả năng, thêm “Khác” nếu cần, và các lựa chọn không chồng lấn nhau như nhóm tuổi 20–30 và 30–40.
Đảo thứ tự đáp án khi phù hợp. Với danh sách không có thứ tự tự nhiên, đảo ngẫu nhiên để giảm thiên lệch chọn đáp án đầu; không đảo thang đo có thứ tự.
Một câu một ý. Câu “Thầy cô giảng dễ hiểu và nhiệt tình” hỏi hai ý trong một; tách thành hai câu.
Thử bảng hỏi bằng dữ liệu giả trước khi phát
Thử là bước bị cắt nhiều nhất khi gấp, và cũng là bước tiết kiệm nhiều nhất về sau:
- Lập bảng các đường đi: mỗi tổ hợp rẽ nhánh chính là một đường (có con và không có con; đi làm và không đi làm…).
- Mỗi thành viên nhóm điền ít nhất một phiếu cho mỗi đường, cố ý nhập giá trị sai để xem ràng buộc có chặn không.
- Qualtrics có chức năng sinh phiếu trả lời thử tự động; LimeSurvey và KoboToolbox có chế độ xem trước. Dùng chúng cho số lượng, nhưng vẫn cần người thật đi từng đường.
- Xuất dữ liệu thử, mở bằng phần mềm phân tích sẽ dùng, kiểm tên biến, mã hoá, ô trống do rẽ nhánh, nhãn đáp án.
- Chạy thử cú pháp phân tích chính trên dữ liệu thử; lỗi cấu trúc dữ liệu sẽ lộ ra lúc này.
- Thử trên điện thoại cấu hình thấp và màn hình nhỏ, vì phần lớn người trả lời qua mạng dùng điện thoại.
- Xoá toàn bộ phiếu thử trước khi phát thật, hoặc thêm biến đánh dấu phiếu thử để loại khi phân tích.
Câu ma trận và thang đo trên màn hình điện thoại
Câu ma trận (nhiều mục cùng một thang đo, xếp thành bảng) gọn trên máy tính nhưng trên điện thoại thường bị co lại, phải cuộn ngang, hoặc bị công cụ tự chuyển thành chuỗi câu riêng. Người trả lời dễ chọn nhầm hàng, hoặc chọn cùng một mức cho mọi mục cho nhanh. Nếu phần lớn người trả lời dùng điện thoại, cân nhắc tách ma trận lớn thành nhiều nhóm nhỏ năm đến bảy mục mỗi trang.
Giữ hướng thang đo nhất quán trong toàn bảng hỏi: nếu bên trái là rất không đồng ý thì mọi thang đều như vậy. Câu đảo chiều về nội dung vẫn dùng được, nhưng thang hiển thị không nên đảo, vì người trả lời trên màn hình nhỏ hầu như không đọc lại nhãn ở mỗi câu.
Sổ mã hoá: tài liệu đi cùng bảng hỏi
Sổ mã hoá liệt kê cho mỗi biến: tên biến, câu hỏi nguyên văn, kiểu dữ liệu, mã và nhãn của từng đáp án, mã cho từ chối và không biết, điều kiện hiển thị, ràng buộc. Lập sổ này song song khi dựng bảng hỏi, không để đến lúc phân tích. Với KoboToolbox, tệp XLSForm gần như chính là sổ mã hoá; với Google Forms, phải lập riêng.
Sổ mã hoá giúp người phân tích không phải đoán, giúp đồng tác giả kiểm lại logic, và là tài liệu bổ sung khi nộp dữ liệu vào kho dữ liệu mở. Khi bảng hỏi sửa giữa chừng, sổ mã hoá ghi ngày sửa và nội dung sửa.
Sửa bảng hỏi khi đã phát: nguyên tắc tối thiểu
- Không đổi tên biến, mã đáp án, thứ tự đáp án của câu đã có dữ liệu.
- Sửa lỗi chính tả, câu chữ nhỏ thì được, nhưng ghi lại ngày sửa.
- Thêm câu mới thì chấp nhận phần mẫu trước đó thiếu câu này, ghi vào phần giới hạn.
- Lỗi rẽ nhánh nghiêm trọng thì tạm dừng thu, sửa, thử lại, ghi số phiếu bị ảnh hưởng.
Câu hỏi thường gặp
Google Forms có rẽ nhánh theo nhiều điều kiện được không?
Không trực tiếp. Google Forms chỉ chuyển phần theo đáp án của một câu chọn một hoặc thả xuống. Muốn ghép điều kiện, phải chia bảng hỏi thành nhiều phần nối nhau, khá cồng kềnh; bảng hỏi phức tạp nên dùng công cụ khác.
Có nên đặt mọi câu là bắt buộc để tránh dữ liệu thiếu không?
Không nên. Bắt buộc mọi câu tăng tỷ lệ bỏ dở và trả lời bừa. Đặt bắt buộc cho câu cốt lõi, kèm lựa chọn không muốn trả lời, và để không bắt buộc với câu mở hoặc câu nhạy cảm.
Làm sao biết phiếu trống do rẽ nhánh hay do bỏ qua?
Dựa vào điều kiện hiển thị của câu: nếu điều kiện không thoả, ô trống là không được hỏi. Có thể tính lại điều kiện trong phần mềm phân tích và gán mã riêng cho từng loại trống.
Ràng buộc giá trị có làm người trả lời khó chịu không?
Có, nếu đặt quá chặt hoặc thông báo lỗi khó hiểu. Chỉ chặn giá trị không thể xảy ra, viết thông báo nói rõ cách sửa, và thử với người ngoài nhóm để xem họ có bị kẹt không.
Thử bảng hỏi với bao nhiêu người là đủ?
Không có con số chung. Cần đủ để đi qua mọi đường rẽ nhánh chính và có vài người ngoài nhóm thuộc đối tượng nghiên cứu điền thử để phát hiện câu khó hiểu. Thử nhận thức câu hỏi là bước riêng của phương pháp.