Thao túng hình ảnh thường lộ qua ba dấu hiệu: một vùng ảnh lặp lại ở chỗ khác hoặc ở hình khác, đường cắt sắc hay nền đổi đột ngột giữa các dải điện di, và tương phản bị đẩy tới mức nền trắng tuyệt đối. Công cụ phần mềm giúp soi kỹ, nhưng kết luận cần chuyên môn và dữ liệu gốc.
Hình ảnh trong sinh học, y học, vật liệu là dữ liệu, không phải minh hoạ. Một dải protein bị chép sang làn khác, một trường kính hiển vi dùng cho hai điều kiện thí nghiệm, đều là sai lệch dữ liệu. Nghiên cứu sàng lọc hàng chục nghìn bài báo y sinh của Bik và cộng sự đăng trên mBio năm 2016 đã cho thấy ảnh trùng lặp không phù hợp xuất hiện ở một phần đáng kể bài báo, với nhiều mức độ từ sơ suất tới cố ý. Bài này viết cho biên tập viên, phản biện, người hướng dẫn và cả tác giả muốn tự rà trước khi nộp.
Các dạng thao túng hay gặp
Không phải mọi chỉnh sửa đều là thao túng. Chỉnh độ sáng, tương phản đều trên toàn ảnh và áp dụng như nhau cho ảnh đối chứng thường được chấp nhận nếu không che hay tạo ra chi tiết. Bảng dưới liệt kê những dạng vượt ranh giới đó.
| Dạng | Biểu hiện | Nơi hay gặp |
|---|---|---|
| Nhân bản nguyên ảnh | Cùng một ảnh dùng cho hai điều kiện khác nhau, đôi khi ở hai bài khác nhau | Ảnh kính hiển vi, ảnh mô học, ảnh tế bào |
| Nhân bản có xoay, lật, cắt | Cùng nội dung nhưng bị xoay, lật gương hoặc phóng to một phần | Ảnh mô, ảnh khuẩn lạc, ảnh vật liệu |
| Sao chép vùng trong ảnh | Một cụm tế bào, một dải, một đốm nền lặp lại trong cùng ảnh | Ảnh điện di, ảnh hiển vi |
| Cắt ghép không công bố | Các làn từ nhiều lần chạy ghép thành một ảnh mà không có đường phân cách | Western blot, gel điện di |
| Xoá hoặc che chi tiết | Dải lạ biến mất, nền phẳng bất thường | Ảnh điện di, ảnh hiển vi huỳnh quang |
| Tương phản quá mức | Nền trắng tuyệt đối, dải yếu biến mất hoặc dải bão hoà | Ảnh điện di |
Dấu hiệu nhận diện bằng mắt
Trong ảnh điện di
Nhìn kỹ nền giữa các làn: nền thật luôn có hạt nhiễu và độ xám thay đổi nhẹ. Một đường dọc sắc, nền đổi tông đột ngột, hoặc khoảng cách giữa các làn không đều có thể là dấu cắt ghép. Hình dạng dải giống hệt nhau tới từng vết lồi lõm ở hai làn khác điều kiện là dấu hiệu nhân bản.
Trong ảnh hiển vi và mô học
Tìm cụm chi tiết đặc trưng như tế bào hình dạng lạ, vết bụi, bọt khí, rồi xem nó có xuất hiện lại ở ô khác trong cùng hình hay ở hình khác không. Các ô ảnh chồng lấn nhau một phần, như hai ảnh chụp liền kề, cũng cần kiểm khi chúng được trình bày như hai mẫu độc lập.
Tăng độ tương phản để soi
Chép ảnh ra, kéo mạnh mức sáng và tương phản. Các vùng được dán hoặc tô phẳng sẽ lộ ra vì nhiễu nền khác với xung quanh. Đây là cách các biên tập viên ảnh dùng từ lâu, chỉ cần phần mềm xử lý ảnh thông thường.
Công cụ hỗ trợ: làm được gì và không làm được gì
ImageJ và Fiji. Phần mềm xử lý ảnh khoa học miễn phí, dùng để chỉnh mức sáng, xem biểu đồ phân bố độ sáng, so hai vùng ảnh. Không tự phát hiện thao túng, nhưng là công cụ cơ bản để soi kỹ.
Bộ công cụ pháp y của Văn phòng Liêm chính Nghiên cứu Hoa Kỳ (ORI). Các thao tác tự động trong phần mềm chỉnh ảnh, giúp làm nổi bật vùng bị sửa và so sánh hai ảnh chồng lên nhau.
Công cụ phân tích mức lỗi nén. Một số công cụ trực tuyến hiển thị chênh lệch nén JPEG để gợi ý vùng bị dán. Kết quả dễ đọc sai, chỉ nên dùng như gợi ý.
Phần mềm thương mại phát hiện ảnh trùng. Proofig, ImageTwin và các dịch vụ tương tự tự động tìm vùng trùng trong bản thảo, có nơi so với kho ảnh đã công bố. Nhiều nhà xuất bản đã đưa vào quy trình sàng lọc. Kết quả vẫn phải được người có chuyên môn xem lại.
Giới hạn chung. Không công cụ nào phân biệt chắc chắn sơ suất với cố ý. Ảnh nén thấp, ảnh nhỏ trong tệp PDF làm giảm độ tin cậy của mọi phép soi.
Tác giả tự rà trước khi nộp
Phần lớn ảnh trùng trong bài báo đến từ sơ suất khi dựng hình, và tự rà ngăn được hầu hết:
- Lưu ảnh gốc từ máy chụp, không nén, kèm tên tệp có ngày và mã mẫu; không ghi đè ảnh gốc khi chỉnh.
- Dựng hình từ ảnh gốc, ghi lại trong tệp riêng ảnh nào nằm ở ô nào.
- Chỉnh sáng và tương phản đều trên toàn ảnh, áp dụng như nhau cho mọi ảnh cùng nhóm so sánh.
- Khi ghép làn từ các vị trí khác nhau, để đường phân cách rõ và nêu trong chú thích hình.
- Giữ ảnh màng toàn phần chưa cắt của mọi western blot để nộp khi được yêu cầu.
- Trước khi nộp, một người khác trong nhóm đối chiếu từng ô hình với tệp gốc.
Nhiều tạp chí đã có hướng dẫn riêng về xử lý ảnh, phần lớn bắt nguồn từ các nguyên tắc được Rossner và Yamada nêu trong bài “What’s in a picture?” trên The Journal of Cell Biology. Đọc hướng dẫn ảnh của tạp chí đích trước khi dựng hình.
Toà soạn trong nước: đưa kiểm ảnh vào quy trình
Tạp chí không có ngân sách cho phần mềm thương mại vẫn làm được nhiều việc với quy trình đơn giản:
- Thêm vào hướng dẫn tác giả một mục về xử lý ảnh: chỉnh gì được, phải khai báo gì, phải lưu ảnh gốc bao lâu.
- Yêu cầu tác giả nộp ảnh độ phân giải cao riêng, không chỉ ảnh nằm trong tệp bản thảo đã nén.
- Với bài có western blot, yêu cầu nộp ảnh màng toàn phần làm tài liệu bổ sung ngay khi gửi bài.
- Giao một biên tập viên đã được tập huấn soi ảnh bằng ImageJ hoặc Fiji ở bước kiểm tra ban đầu, trước khi gửi phản biện.
- Lập mẫu biên bản ghi nghi vấn: hình, ô, mô tả, ảnh chụp đánh dấu, ngày, người kiểm.
- Thống nhất trước ai quyết định gửi thư hỏi tác giả, và áp dụng lưu đồ COPE cho mọi trường hợp như nhau.
Kiểm ảnh ở bước đầu rẻ hơn nhiều so với xử lý sau khi bài đã đăng. Một lần đính chính hay rút bài vì ảnh tốn công cả toà soạn lẫn tác giả trong nhiều tháng.
Phát hiện rồi: trách nhiệm và trình tự
Nếu là phản biện hoặc biên tập viên
Ghi lại cụ thể: hình nào, ô nào, mô tả điều thấy được, kèm ảnh chụp vùng nghi ngờ đã đánh dấu. Gửi cho biên tập viên phụ trách qua kênh bảo mật của hệ thống, không liên hệ trực tiếp tác giả. Toà soạn theo lưu đồ xử lý của Uỷ ban Đạo đức Xuất bản (COPE): yêu cầu tác giả giải thích và cung cấp ảnh gốc, rồi quyết định sửa, rút hay chuyển cho cơ quan của tác giả.
Nếu là người hướng dẫn hoặc đồng tác giả
Hỏi lại người dựng hình và xem ảnh gốc trước khi kết luận. Nếu là sơ suất trong bài chưa nộp, sửa và ghi nhận bài học cho nhóm. Nếu bài đã công bố, liên hệ tạp chí để đính chính; chủ động đính chính được đánh giá rất khác với bị phát hiện.
Nếu là người đọc bài đã công bố
Có thể liên hệ biên tập viên tạp chí với mô tả cụ thể, hoặc nêu trên nền tảng bình luận sau công bố như PubPeer. Viết dưới dạng mô tả điều thấy được và đặt câu hỏi, tránh kết luận về động cơ hay buộc tội cá nhân.
Việc không nên làm
Không đăng cáo buộc lên mạng xã hội trước khi toà soạn có cơ hội xử lý. Không tự “sửa” ảnh của người khác để chứng minh. Không kết luận từ một công cụ tự động duy nhất. Và với tác giả, không xoá ảnh gốc sau khi bài được nhận: nhiều câu hỏi về ảnh xuất hiện vài năm sau công bố, khi đó ảnh gốc là bằng chứng duy nhất cho sự trung thực của bạn.
Câu hỏi thường gặp
Chỉnh độ sáng ảnh có bị coi là thao túng không?
Không, nếu chỉnh đều trên toàn ảnh, áp dụng như nhau cho ảnh đối chứng và không làm mất hay tạo ra chi tiết. Nên nêu cách xử lý ảnh trong phần phương pháp.
Ghép làn từ hai gel khác nhau có được không?
Được nếu có đường phân cách rõ trong hình, nêu trong chú thích và các làn được so sánh hợp lệ về điều kiện chạy. Ghép mà che đường nối là vi phạm.
Phần mềm phát hiện ảnh trùng có thay được người kiểm không?
Không. Phần mềm chỉ ra vùng nghi ngờ, còn đánh giá đó là trùng thật, trùng hợp lý hay báo nhầm cần người có chuyên môn và ảnh gốc.
Tạp chí yêu cầu ảnh gốc thì gửi gì?
Gửi tệp ảnh gốc từ thiết bị chụp, không nén, ảnh màng toàn phần với western blot, kèm bảng đối chiếu tệp gốc với từng ô trong hình.
Phát hiện ảnh trùng trong bài của đồng nghiệp thì nên làm gì?
Trao đổi riêng, đề nghị xem ảnh gốc. Nếu là sơ suất, hỗ trợ liên hệ tạp chí để đính chính. Nếu nghi ngờ nghiêm trọng, báo theo kênh liêm chính của cơ quan.