FWCI (Field-Weighted Citation Impact) là tỷ số giữa số trích dẫn một bài thực nhận và số trích dẫn trung bình của các bài cùng lĩnh vực, cùng năm xuất bản, cùng loại tài liệu trong Scopus. FWCI bằng 1 là đúng mức kỳ vọng; 2 là gấp đôi; 0,5 là bằng một nửa.
Số trích dẫn thô không so được giữa ngành: một bài toán học được trích mười lần có thể là bài nổi bật, còn một bài y sinh được trích mười lần có thể dưới trung bình. Chỉ số chuẩn hoá ra đời để sửa điều đó. Bài này đi vào FWCI vì hay gặp nhất ở Việt Nam qua Scopus và SciVal, rồi điểm qua các chỉ số cùng họ; không bàn lại h-index.
FWCI được tính từ đâu?
Số trích dẫn thật
Với mỗi bài, Elsevier đếm số trích dẫn nhận trong năm xuất bản và ba năm tiếp theo. Cửa sổ cố định này giúp bài cũ và bài mới so được với nhau, vì bài nào cũng chỉ được đếm trong một khoảng thời gian tương đương.
Số trích dẫn kỳ vọng
Số kỳ vọng là trung bình trích dẫn, trong cùng cửa sổ, của mọi tài liệu trong Scopus có cùng năm xuất bản, cùng loại tài liệu và cùng lĩnh vực theo hệ ASJC. Bài thuộc nhiều lĩnh vực được tính kỳ vọng kết hợp từ các lĩnh vực đó.
Tỷ số và tổng hợp
FWCI của một bài = số thật chia số kỳ vọng. FWCI của một nhóm bài (một người, một khoa, một trường) là trung bình FWCI của các bài trong nhóm. Trong Scopus, FWCI hiện ở phần chỉ số của trang bài báo; trong SciVal, có thể xem cho nhóm bài theo tác giả, đơn vị, quốc gia.
Đọc giá trị FWCI
Bảng dưới là cách đọc giá trị theo định nghĩa, không phải ngưỡng đánh giá chính thức của cơ quan nào.
| Giá trị | Nghĩa theo định nghĩa | Lưu ý khi đọc |
|---|---|---|
| 0 | Chưa được trích trong cửa sổ | Bài rất mới thì chưa đủ thời gian; không phải dấu hiệu bài kém |
| Dưới 1 | Được trích ít hơn mức trung bình của bài cùng loại | Ngành hẹp, bài viết bằng tiếng Việt thường thấp vì ít người đọc được |
| Bằng 1 | Ngang mức trung bình toàn Scopus | Mức tham chiếu, không phải điểm đỗ |
| Trên 1 | Được trích nhiều hơn mức trung bình | Một bài tổng quan có thể cao hơn nhiều so với bài gốc |
| Rất cao (ví dụ trên 5) | Bài nằm ở đuôi phân bố | Với nhóm nhỏ, một bài như vậy kéo cả trung bình nhóm |
Vì FWCI dùng cửa sổ bốn năm tính cả năm xuất bản, giá trị của bài mới còn thay đổi mạnh. Elsevier cảnh báo không nên dựa vào FWCI của bài vừa đăng.
Sai số với nhóm bài nhỏ
Phân bố trích dẫn rất lệch: phần lớn bài ít được trích, số ít bài được trích rất nhiều. Khi tính FWCI trung bình cho một nhóm vài chục bài, một bài “nổ” có thể đẩy chỉ số cả nhóm lên gấp đôi. Năm sau bài đó ra khỏi cửa sổ, chỉ số rơi xuống, dù chất lượng nghiên cứu của nhóm không đổi.
Tình huống hay gặp: một khoa có khoảng ba mươi bài trong năm, trong đó một bài là thành viên của một nhóm hợp tác quốc tế lớn với hàng trăm tác giả, được trích hàng trăm lần. FWCI của khoa năm đó vọt lên. Ai so khoa này với khoa khác chỉ bằng FWCI trung bình sẽ đi tới kết luận sai.
Cách giảm sai: xem cả trung vị hoặc phân bố, không chỉ trung bình; báo cáo số bài kèm theo; dùng tỷ lệ bài nằm trong nhóm được trích nhiều nhất (ví dụ nhóm 10% hoặc 1% hàng đầu của lĩnh vực), vì chỉ số dựa trên phân vị ít bị một bài cực trị kéo lệch.
Một nguồn sai nữa đến từ cách phân lĩnh vực. Bài được gán lĩnh vực theo tạp chí đăng nó, không theo nội dung của chính bài. Một nghiên cứu giáo dục đăng trong tạp chí y khoa sẽ được so với mặt bằng trích dẫn của y khoa, thường cao hơn nhiều, nên FWCI của bài bị kéo xuống dù trong giới giáo dục bài được trích khá. Khi thấy FWCI của một bài thấp bất thường, xem tạp chí được xếp vào lĩnh vực nào trước khi kết luận.
Các chỉ số chuẩn hoá khác
FWCI không phải chỉ số chuẩn hoá duy nhất. Mỗi hệ dữ liệu có phiên bản riêng, nguyên lý gần giống nhau.
| Chỉ số | Hệ dữ liệu | Ý tưởng | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| FWCI | Scopus, SciVal | Thật chia kỳ vọng theo lĩnh vực ASJC, năm, loại | Cửa sổ năm xuất bản cộng ba năm |
| CNCI (Category Normalized Citation Impact) | InCites, Web of Science | Thật chia kỳ vọng theo danh mục Web of Science, năm, loại | Dùng trong InCites của Clarivate |
| RCR (Relative Citation Ratio) | iCite của NIH, dữ liệu PubMed | Lĩnh vực xác định qua mạng đồng trích dẫn của bài | Chỉ dành cho bài trong PubMed |
| Tỷ lệ bài trong nhóm trích nhiều nhất | Nhiều hệ, ví dụ Leiden Ranking | Phần trăm bài lọt nhóm 10% hay 1% hàng đầu của lĩnh vực | Ít bị cực trị kéo lệch |
| JCI (Journal Citation Indicator) | JCR | Chuẩn hoá theo ngành, nhưng ở cấp tạp chí | Không dùng để đánh giá bài hay người |
Khi đặt hai đơn vị cạnh nhau, chỉ so cùng một chỉ số tính trên cùng một hệ dữ liệu. FWCI từ Scopus và CNCI từ InCites không nên đặt trong cùng một cột.
Tình huống: hai khoa, hai ngành, một bảng so
Một phòng quản lý khoa học được yêu cầu so “hiệu quả công bố” của khoa vật lý và khoa ngôn ngữ học. Số trích dẫn trung bình mỗi bài của khoa vật lý gấp mấy lần khoa ngôn ngữ học. Nếu đặt hai cột số thô cạnh nhau, khoa ngôn ngữ học trông như yếu kém, trong khi thực tế ngành ngôn ngữ trích dẫn thưa hơn nhiều và nhiều công trình là sách, không nằm trong Scopus.
Dùng FWCI giải quyết được phần thứ nhất: mỗi bài được so với bài cùng lĩnh vực, nên hai khoa cùng nằm trên một thang. Phần thứ hai thì không: sách và tạp chí trong nước ngoài Scopus vẫn vắng mặt. Báo cáo trung thực vì vậy nên nói rõ tỷ lệ công trình của mỗi khoa nằm trong Scopus, rồi mới đưa FWCI, và tốt hơn nữa là thêm chỉ số dựa trên phân vị cùng số bài.
Thêm một chi tiết dễ bỏ sót: nếu khoa vật lý có vài bài trong các nhóm hợp tác quốc tế rất lớn, nên tách riêng hoặc ghi chú. Những bài đó có FWCI cao nhưng đóng góp của khoa chỉ là một phần nhỏ, và chúng làm méo trung bình của cả khoa.
Dùng FWCI cho đúng mức trong báo cáo
Ghi rõ hệ dữ liệu, ngày trích xuất và số bài. FWCI được tính lại khi Scopus cập nhật trích dẫn và phân loại. Ghi ngày giúp người đọc hiểu vì sao lần tra sau ra số khác.
Báo cáo cùng với chỉ số dựa trên phân vị. Một dòng “x% số bài nằm trong nhóm 10% được trích nhiều nhất của lĩnh vực” bổ sung tốt cho FWCI trung bình.
Không dùng FWCI cho từng người khi số bài ít. Một cá nhân có vài bài trong cửa sổ thì FWCI gần như phản ánh một hai bài, không nói được về năng lực.
Cẩn thận với bài tổng quan và bài hợp tác cực lớn. Hai loại này thường có FWCI rất cao; tách riêng hoặc ghi chú để không làm méo bức tranh chung.
Nhớ rằng chỉ đo trong phạm vi Scopus. Bài tiếng Việt, sách và tạp chí trong nước ngoài Scopus nằm ngoài phép đo; FWCI thấp ở nhóm đó không nói về chất lượng.
Câu hỏi thường gặp
FWCI xem ở đâu?
Trong Scopus, mở trang chi tiết một bài báo, phần chỉ số thường hiển thị FWCI cùng số trích dẫn và phân vị. Để xem FWCI của cả nhóm bài theo tác giả, đơn vị hoặc quốc gia, cần SciVal, một sản phẩm thuê bao của Elsevier.
FWCI bằng 1 nghĩa là bài bình thường phải không?
Theo định nghĩa, FWCI bằng 1 là được trích đúng bằng trung bình các bài cùng lĩnh vực, năm và loại trong Scopus. Đó là mức tham chiếu thống kê, không phải đánh giá chất lượng khoa học của bài.
Vì sao FWCI của bài thay đổi theo thời gian?
Trích dẫn thật của bài và trích dẫn của các bài dùng để tính kỳ vọng đều tiếp tục tăng trong cửa sổ bốn năm. Phân loại lĩnh vực cũng có thể được cập nhật, nên giá trị chỉ ổn định khi bài đã qua hết cửa sổ.
FWCI và CNCI có so với nhau được không?
Không nên. Hai chỉ số cùng ý tưởng nhưng dùng hai cơ sở dữ liệu khác nhau, hai hệ danh mục khác nhau và cách tính cửa sổ khác nhau. So hai đơn vị thì dùng cùng một chỉ số trên cùng một hệ.
Nhóm nghiên cứu nhỏ nên báo cáo gì thay cho FWCI trung bình?
Báo cáo số bài, trung vị FWCI hoặc phân bố, và số bài nằm trong nhóm được trích nhiều nhất của lĩnh vực. Kèm vài bằng chứng cụ thể về việc kết quả được sử dụng sẽ thuyết phục hơn một con số trung bình.